Các vấn đề pháp lí về vốn điều lệ

 

1.Doanh nghiệp thực hiện đăng ký lại vốn điều lệ trong các trường hợp nào?

1.1. Khái quát về vốn điều lệ trong công ty cổ phần

Trong hoạt động của công ty cổ phần, vốn điều lệ được nhắc tới như một bước đầu để đánh giá quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Bởi lẽ vốn điều lệ xuất phát từ những khoản vốn mà các cổ đông đóng góp vào, việc các nhà đầu tư cam kết góp vốn vào doanh nghiệp cũng cho thấy sức thu hút của doanh nghiệp tới họ. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào có vốn điều lệ càng lớn thì càng tốt, bởi lẽ vốn điều lệ thực chất chỉ là tỷ lệ vốn góp mà các cổ đông cam kết góp khi thành lập doanh nghiệp. Thực tế các doanh nghiệp không cần phải chứng minh số vốn điều lệ của mình, và hiện tại cũng không có cơ quan nào có trách nhiệm kiểm tra vốn điều lệ của doanh nghiệp. Hiện tại, quy định của Luật doanh nghiệp về việc không thanh toán đúng hạn số vốn cam kết góp thì doanh nghiệp phải điều chỉnh số vốn góp thực tế và đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, mặc dù vốn điều lệ thực tế ít hơn so với ban đầu nhưng chỉ cần doanh nghiệp hoạt động đúng luật và quản lý tốt việc kinh doanh là được.

Theo quy định tại Khoản 1 điều 111 Luật doanh nghiệp 2014 thì vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại, bao gồm cả tổng giá trị số cổ phần đã được đăng ký mua tại thời điểm thành lập doanh nghiệp. Khác với quy định của Luật doanh nghiệp 2005 thì quy định mới này của Luật doanh nghiệp 2014 đã xác định rõ vốn điều lệ công ty cổ phần chính là vốn thực góp, cụ thể là giá trị của các cổ phần đã bán hoặc cổ phần đã được đăng ký mua khi đăng ký thành lập doanh nghiệp. Như vậy, chỉ có tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ mới là số vốn mà các thành viên, cổ đông cam kết góp/đăng ký mua vào công ty. Nếu sau thời hạn nêu trên mà thành viên, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết góp/đăng ký mua, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị thực góp.

Vốn điều lệ là cơ sở để xác định tỷ lệ phần sở hữu số cổ phần, quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty. Theo đó, cổ đông trong công ty cổ phần có trách nhiệm hữu hạn đối với số vốn góp của mình.

1.2. Các trường hợp doanh nghiệp thực hiện đăng ký lại vốn điều lệ

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có quyền thay đổi vốn điều lệ của doanh nghiệp mình để phù hợp và thuận lợi hơn trong quá trình hoạt động. Khi thay đổi vốn điều lệ, doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi nội dung giấy đăng ký doanh nghiệp.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật doanh nghiệp 2014 thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có quyết định thay đổi vốn điều lệ, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký thay đổi với phòng đăng ký doanh nghiệp.

Việc đăng ký lại vốn điều lệ có 2 trường hợp: Thứ nhất là tăng vốn điều lệ, thứ hai là giảm vốn điều lệ.

1.2.1. Đối với việc tăng vốn điều lệ, doanh nghiệp thực hiện đăng ký lại vốn trong các trường hợp sau:

Chào bán cổ phần mới để huy động thêm vốn, thực hiện dưới các hình thức : chào bán cho các cổ đông, chào bán ra công chúng, chào bán cổ phần riêng lẻ. Ở đây, doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký lại vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc bán cổ phần theo quy định tại các điều 122, 123,124 Luật doanh nghiệp.

Chuyển đổi trái phiếu đã phát hành cổ phần: Là trường hợp công ty cổ phần phát hành trái phiếu chuyển đổi, một loại trái phiếu đã được chuyển đổi thành cổ phiếu cổ đông theo điều kiện đã xác định trong phương án phát hành trái phiếu. Theo khoản 5 điều 127 Luật doanh nghiệp [1]thì trường hợp này công ty thực hiện việc đăng ký lại vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần.

Thực hiện trả cổ tức bằng cổ phần:

Trường hợp này công ty không phải làm thủ tục chào bán cổ phần mà phải đăng ký tăng vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần dùng để chi trả cổ tức theo khoản 6 điều 132 Luật doanh nghiệp.

1.2.2. Đối với việc gỉam vốn điều lệ, doanh nghiệp thực hiện đăng ký lại vốn trong các trường hợp sau:

Hoàn trả một phần vốn góp cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần cổ đông của họ trong công ty:

Điều kiện để doanh nghiệp thực hiện trả một phần góp vốn bao gồm: công ty hoạt động liên tục được 2 năm kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp và đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi hoàn trả vốn góp cho cổ đông.

Sau khi hoàn trả vốn góp cho cổ đông, vốn thực tế của công ty sẽ giảm do đó công ty phải thực hiện đăng ký lại vốn điều lệ

Mua lại cổ phần đã phát hành theo yêu cầu của cổ đông:

Nếu cổ đông biểu quyết phản đối các quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông được quy định tại điều lệ công ty thì cổ đông này có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Sau khi thực hiện thủ tục yêu cầu mua lại cổ phần thì công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông này. Trường hợp này, số vốn điều lệ của công ty bị giảm đi do phải mua lại cổ phần từ cổ đông nên công ty phải thực hiện việc đăng ký lại vốn điều lệ theo quy định của pháp luật về việc đăng ký lại vốn điều lệ.

Mua lại cổ phần đã phát hành theo quyết định của công ty.

Công ty có thể thay đổi vốn điều lệ theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo điểm a khoản 5 điều 111 Luật doanh nghiệp. Điều này quy định công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông;

Sau khi thực hiện xong các bước mua lại cổ phần theo quy định tại Điều 130 thì công ty phải đăng ký lại vốn điều lệ, do vốn điều lệ của công ty bị giảm xuống sau khi mua lại mức cổ phần trên.

Vốn điều lệ không được các cổ đông đóng góp đầy đủ và trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Trường hợp cổ đông không thanh toán đầy đủ và đúng hạn số vốn góp đã đăng ký dẫn tới số vốn thực tế đã góp ít hơn với số vốn cam kết góp ban đầu. Do vậy, lúc này vốn điều lệ đã giảm xuống so với vốn điều lệ ban đầu, doanh nghiệp cần phải đăng ký lại vốn điều lệ theo quy định tại điểm d khoản 3 điều 112 Luật doanh nghiệp.[2]

  1. Giải quyết cổ đông không cam kết góp đủ vốn như thế nào?

Cổ đông trong công ty cổ phần là tổ chức, cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp, và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp. Ứng với số vốn đã cam kết góp ban đầu, cổ đông sẽ được hưởng quyền lợi tương ứng với số vốn mình đã góp. Do đó, để đảm bảo giữa quyền và nghĩa vụ của cổ đông đối với vốn điều lệ của công ty thì cổ đông phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đủ và đúng hạn số cổ phần đã cam kết mua.

Theo quy định về việc thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký doanh nghiệp thì tại khoản 1 điều 112 Luật doanh nghiệp buộc các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trừ trường hợp điều lệ công ty quy định thời hạn ngắn khác. Hội đồng quản trị sẽ chịu trách nhiệm giám sát và đôn đốc thanh toán đủ và đúng hạn các cổ phần mà cổ đông đã đăng ký mua. Do đó, nếu sau thời hạn này cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì áp dụng theo khoản 3 điều 112 Luật doanh nghiệp. Cụ thể:

-Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác;

Ví dụ cổ đông đã đăng ký mua 10000 cổ phần của công ty, nhưng lại không thanh toán số cổ phần đã đăng ký trước thời hạn luật quy định(cụ thể là 90 ngày kể từ thời điểm cấp giấy đăng ký doanh nghiệp) hoặc thời hạn do điều lệ công ty quy định riêng, thì không còn là cổ đông của công ty và cũng không được chuyển nhượng quyền mua 10000 cổ phần này cho người khác.

-Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác;

Trường hợp cổ đông đăng ký mua 10000 cổ phần nhưng lại chỉ mới thanh toán xong 5000 cổ phần đã đăng ký thì cổ đông chỉ có các quyền ứng với 5000 cổ phần đã thanh toán này, đối với 5000 cổ phần chưa thanh toán thì cổ đông cũng không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần này cho người khác.

Việc cổ đông không góp đủ vốn cam kết thì cổ đông vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua, cụ thể là đối với nghĩa vụ tài chính của công ty trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 ở trên.(khoản 4 điều 112 Luật doanh nghiệp). Cụ thể, đối với 5000 cổ phần đã đăng ký nhưng chưa thanh toán trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp giấy đăng ký doanh nghiệp, cổ đông vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng mệnh giá của 5000 cổ phần này mặc dù chưa thanh toán. Quy định này đặt ra nhằm đảm bảo tính ràng buộc đối với số cổ phần mà cổ đông đã đăng ký, hạn chế trường hợp cổ đông đăng ký khống nhưng không chịu trách nhiệm với số cổ phần đã cam kết mua.

  1. Chia tỷ lệ lợi nhuận trong công ty cổ phần:

Lợi nhuận trong công ty cổ phần luôn và vấn đề được các cổ đông đặt lên hàng đầu khi góp vốn mua cổ phần. Do đó, để biết được lợi nhuận của mình là bao nhiêu, và để các cổ đông lựa chọn được những loại cổ phần phù hợp với lợi nhuận mà mình muốn nhận được thì các cổ đông phải dựa trên quy định trả lợi nhuận theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Trong công ty cổ phần, cổ tức là khoản lợi nhuận được trả cho mỗi cổ phần từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính (Khoản 3 điều 4 Luật doanh nghiệp). Theo quy định của điều 113 Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần có các loại cổ phần như: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác. Trong số những loại cổ phần này, ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết thì các cổ phần còn lại đều được trả cổ tức theo quy định riêng đối với mỗi loại cổ phần.

3.1: Cổ phần phổ thông:

Theo khoản 2 điều 132 Luật doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ phần phổ thông khi đáp ứng các điều kiện sau:

–         Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;

–         Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;

–          Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.

Sau khi công ty đáp ứng được những điều kiện trên, công ty thực hiện việc chi trả cổ tức theo khoản 2 điều này, tức là căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty.

3.2: Cổ phần ưu đãi:

So với cổ phần phổ thông, thì cổ phần ưu đãi(trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết) thường là lựa chọn của các nhà đầu tư mong muốn nhận được nhiều lợi nhuận, đảm bảo sự an toàn thay vì các quyền quyết định trong công ty. Với cổ phần ưu đãi, cổ đông có thể được trả lợi nhuận cao hơn so với các cổ đông thông thường, hoặc được đảm bảo trả lại phần vốn góp của mình trước khi công ty phá sản hoặc giải thể. Tùy thuộc vào từng loại cổ phần ưu đãi, mà các cổ đông được trả lợi nhuận theo đó.

Theo khoản 2 điều 113 Luật doanh nghiệp thì cổ phần ưu đãi bao gồm cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác. Như vậy, để tính cổ tức ưu đãi thì ta phải dựa vào điều kiện riêng cho các loại cổ phần ưu đãi này.

Cổ phần ưu đãi cổ tức: Điều 117 Luật doanh nghiệp quy định rõ về cổ phần ưu đãi cổ tức và quyền của cổ đông ưu đãi cổ tức. Cụ thể, khoản 1 điều này quy định: Cổ phần ưu đãi cổ tức có mức cổ tức cao hơn so với cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Mức cổ tức cố định được ghi chi tiết trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức; không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.

Về quyền của cổ đông ưu đãi cổ tức, theo khoản 2 và khoản 3 điều 117 , cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền sau:

Quyền của cổ đông ưu đãi cổ tức trước tiên là được nhận mức cổ tức cao hơn so với cổ phần phổ thông hoặc ổn định hằng năm. Trường hợp công ty giải thể hoặc phá sản, nếu đã thanh toán hết các khoản nợ và trả xong cổ phần ưu đãi hoàn lại thì cổ đông ưu đãi cổ tức được nhận phần tài sản còn lại ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty. Ngoài ra, cổ đông ưu đãi cổ tức cũng được hưởng các quyền khác như cổ đông phổ thông trừ trường hợp tại khoản 3 điều này(các quyền như quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát)

Cổ phần ưu đãi hoàn lại:

Khoản 1 điều 118 Luật doanh nghiệp quy định Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại.

Giống như cổ phần ưu đãi cổ tức thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng được ưu tiên nhận mức cổ tức cao hơn so với cổ phần phổ thông. Về quyền ưu đãi hoàn lại thì cổ đông sở hữu cổ phần này có các quyền tương tự đối với cổ phần cổ tức. Đặc biệt cổ đông ưu đãi hoàn lại có quyền hoàn lại số cổ phần đó cho công ty phát hành trong trường hợp công ty phá sản hay giải thể.

Đối với cổ phần ưu đãi khác(không phải cổ phần ưu đãi cổ tức hay hoàn lại) thì việc chia lợi nhuận cũng phải đáp ứng các điều kiện chia cổ tức như đối với cổ phần phổ thông.

Như vậy, để tính tỷ lệ lợi nhuận (cổ tức) cho các cổ đông trong công ty cổ phần thì ta phải xem xét loại cổ phần đó là gì, có được trả cổ tức hay không, trường hợp được trả thì có cần phải xét qua điều kiện gì hay không. Sau đó, ta vận dụng quy định trả cổ tức cho từng loại cổ phần để tính lợi nhuận cho cổ đông.

[1] Điều 127. Phát hành trái phiếu

  1. Trường hợp công ty cổ phần phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phần thì thực hiện theo trình tự, thủ tục tương ứng chào bán cổ phần theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Công ty thực hiện đăng ký thay đổi vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần.

[2] Điều 112. Thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký doanh nghiệp:

  1. Nếu sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua, thì thực hiện theo quy định sau đây:
  2. d) Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Như vậy, với những nội dung trên đây thì chúng ta đã hiểu được những vấn đề cơ bản trong công ty cổ phần. Từ đây, chúng ta có thể trả lời được những câu hỏi xoay quanh quy định về vốn điều lệ, trách nhiệm của cổ đông nếu không góp đủ vốn, hay chia tỷ lệ lợi nhuận trong công ty cổ phần như thế nào. Rõ ràng, quy định của pháp luật so với thực tế còn rất nhiều điểm khác nhau, tuy nhiên dựa trên tính chất hoạt động của từng doanh nghiệp và tuân thủ đúng luật, thì chúng ta hoàn toàn có thể linh động để quản lý hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

https://plf.com.vn/vi/tang-giam-von-dieu-le-cong-ty-co-phan

https://lawkey.vn/chia-loi-nhuan-trong-cong-ty-co-phan/

https://thebank.vn/blog/14680-nhung-loi-ich-khong-the-bo-qua-khi-dau-tu-co-phieu-uu-dai-hoan-lai.html